Warning: include(/home/content/b/a/o/baove/html/modules/mod_archive/tmpl/list.php) [function.include]: failed to open stream: No such file or directory in /home/content/51/4775551/html/index.php on line 8

Warning: include() [function.include]: Failed opening '/home/content/b/a/o/baove/html/modules/mod_archive/tmpl/list.php' for inclusion (include_path='.:/usr/local/php5/lib/php') in /home/content/51/4775551/html/index.php on line 8

Warning: include(/home/content/b/a/o/baove/html/libraries/joomla/filter/help.php) [function.include]: failed to open stream: No such file or directory in /home/content/51/4775551/html/index.php on line 11

Warning: include() [function.include]: Failed opening '/home/content/b/a/o/baove/html/libraries/joomla/filter/help.php' for inclusion (include_path='.:/usr/local/php5/lib/php') in /home/content/51/4775551/html/index.php on line 11

Warning: session_start() [function.session-start]: Cannot send session cookie - headers already sent by (output started at /home/content/51/4775551/html/index.php:8) in /home/content/51/4775551/html/libraries/joomla/session/session.php on line 423

Warning: session_start() [function.session-start]: Cannot send session cache limiter - headers already sent (output started at /home/content/51/4775551/html/index.php:8) in /home/content/51/4775551/html/libraries/joomla/session/session.php on line 423

Warning: Cannot modify header information - headers already sent by (output started at /home/content/51/4775551/html/index.php:8) in /home/content/51/4775551/html/libraries/joomla/session/session.php on line 426

Warning: Cannot modify header information - headers already sent by (output started at /home/content/51/4775551/html/index.php:8) in /home/content/51/4775551/html/templates/ja_purity/ja_templatetools.php on line 44
Quan Ðiểm Dân Chủ Hiến Ðịnh, Pháp Trị và Ða Nguyên
 

Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home

Quan Ðiểm Dân Chủ Hiến Ðịnh, Pháp Trị và Ða Nguyên

E-mail Print PDF
Tổ chức PHVN song hành chủ trương hai mệnh đề chiến lược:

(1)    Phục hưng văn hóa dân tộc
(2)    Xây dựng dân chủ Hiến Ðịnh, Pháp Trị và Ða Nguyên

Trên nguyên tắc, mọi định chế chính trị và xã hội (từ các cơ chế hành pháp, lập pháp đến tư pháp) cần phải thể hiện tinh thần của chủ trương then chốt này. Bản chất của hai mệnh đề vừa có tính cách tương phản vừa có tính cách hổ tương. Cái lợi của sự tương phản và hổ tương này là làm giảm đi tính cách cực đoan của những chủ trương chính trị. Tương phản và hổ tương như các nguyên lý Âm và Dương trong Thái Cực Ðồ của triết học Ðông Phương đem lại sự tiếp nối cho lịch sử, sự sáng tạo của tương lai và  dung hòa các yếu tố “ôn cố” lẫn “tri tân”.

Chúng ta đã minh thị nâng cao yếu tố văn hóa (trong đó bao gồm yếu tố đạo đức) lên hàng quốc sách để bồi dưỡng cho bản sắc đặc thù của dân tộc, và nhất là chấn chỉnh lại đạo đức con người đã bị CSVN làm băng hoại.

 

Bằng tác động đặt những định chế dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên nằm gọn trong lòng của nền văn hóa dân tộc, hậu quả tất nhiên của tác động này là biến tương quan giữa hai mệnh đề thành một tương quan có tính cách cứu cánh và phương tiện, trong đó dân chủ là phương tiện và văn hóa là cứu cánh. Trong một chế độ dân chủ thật sự tại Việt Nam, chính trị sẽ là phương tiện và đạo đức sẽ là cứu cánh. Ðây là một nét đặc thù quan trọng của TCPHVN.

 

Nét đặc thù quan trọng nữa là chúng ta không chủ trương dân chủ mơ hồ và chung chung như những đảng phái và tổ chức đấu tranh khác, hoặc chỉ chủ trương thuần dân chủ đa nguyên mà thôi. Chúng ta chủ trương minh thị rằng một nền dân chủ nghiêm chỉnh phải bao gồm 3 yếu tố căn bản không thể thiếu:

 

-          Hiến Định

-          Pháp Trị

-          Ða Nguyên

Ðể nắm bắt trọn vẹn chủ trương dân chủ này chúng ta cần phải định nghĩa rõ rệt từng yếu tố một:

THẾ NÀO LÀ DÂN CHỦ HIẾN ĐỊNH 

Khi chúng ta chủ trương dân chủ Hiến Định, Pháp Trị và Đa Nguyên là chúng ta gián tiếp chủ trương rằng một nền dân chủ chân chánh phải bao gồm cả 3 yếu tố: Hiến Định, Pháp Trị và Đa Nguyên. Nếu thiếu đi một trong 3 yếu tố này thì nền dân chủ ấy không những không được hoàn chỉnh mà đôi khi thật sự chỉ là một chế độ độc tài trá hình mà thôi. Chẳng hạn chế độ cộng sản Việt Nam là một chế độ "Hiến Định" vì có một bản hiến pháp (mặc dầu chỉ để làm cảnh mà không hề được tôn trọng), tuy nhiên không hề có một mảy may nào những yếu tố "Pháp Trị" và "Đa Nguyên" cả. Trong bài này chúng ta chỉ bàn đến quan điểm Hiến Định trước. 

Một cách vắn tắc quan điểm Hiến Định có thể được định nghĩa như là "được qui định trong một văn kiện nền tảng gọi là Hiến Pháp (constitution)". Thông thường thì hiến pháp là một văn kiện bằng giấy trắng mực đen. Điển hình nhất là bản hiến pháp của Hoa Kỳ được Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua năm 1787. Tuy nhiên trong trường hợp của Anh Quốc thì thông thường các học giả gọi là hiến pháp bất thành văn. 

Tuy gọi là bất thành văn nhưng kỳ thực lý do không phải là không có văn kiện giấy trắng mực đen, mà chính là vì không có một văn kiện duy nhất (như trường hợp của Hoa Kỳ) có thể được gọi là bản Hiến Pháp cả. Tuy nhiên tại Anh Quốc cổ kính này có rất nhiều sắc luật khác nhau của Quốc Hội, nhiều truyền thống luật pháp lưu truyền trong dòng lịch sử, nhiều ước lệ (conventions) và án lệ (legal precedents) tạo thành một thứ Hiến Pháp mà uy lực không kém gì những bản hiến pháp thành văn của bất cứ quốc gia dân chủ nào trên thế giới. 

ÐÂU LÀ NHỮNG YẾU TỐ CĂN BẢN CỦA QUAN ĐIỂM HIẾN ĐỊNH 

Quan điểm hiến định nghiêm chỉnh phải gồm ít nhất 3 yếu tố sau đây: 

1. Phải được thông qua bởi cơ quan lập pháp chính thức và có thẩm quyền của quốc gia. Thông thường ngày hôm nay, trong một quốc gia theo hệ thống "đơn quyền" (unitary system - chẳng hạn Việt Nam, Pháp, Nam Hàn, Trung Quốc), trái nghĩa với hệ thống liên bang (federal system - chẳng hạn Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Đức) cơ quan đó phải là một quốc hội lập hiến do toàn dân bầu lên trong một cuộc phổ thông đầu phiếu dân chủ thực sự. Nếu là một hệ thống liên bang thì Quốc Hội Lập Hiến có thể được hành pháp hoặc lập pháp của từng tiểu bang đề cử. Việt Nam đã có một truyền thống đơn quyền và Quốc Hội Lập Hiến nên do toàn dân bầu lên trong một cuộc phổ thông đầu phiếu dân chủ thực sự. 

2. Bản hiến pháp này bao gồm 2 đặc tính quan trọng là nó vừa là luật căn bản (fundamental law) vừa là căn bản của mọi luật pháp của quốc gia (foundation of all laws of the nation). 

(a) Hiến pháp là luật căn bản vì từ nó phát xuất ra những cơ chế chính trị rường cột của quốc gia như hành pháp (là chức vụ Tổng Thống hoặc Thủ Tướng hoặc cả hai tùy theo hiến pháp quy định), Lập Pháp (là Quốc Hội hoặc độc viện hoặc lưỡng viện tùy theo hiến pháp quy định), Tư Pháp (là Tối Cao Pháp Viện và hệ thống tòa án thấp hơn theo sự quy định của Hiến Pháp), các cơ chế chính quyền địa phương (như các Tiểu Bang trong hệ thống Liên Bang hoặc các Tỉnh hoặc Quận trong hệ thống đơn quyền etc…)  

(b) Ngoài ra Hiến Pháp còn là căn bản của mọi luật pháp sau đó được Quốc Hội thông qua bởi vì những điều khoảng của nó là những điều luật có tính cách tối cao (supreme). Bất cứ một điều luật nào đi ngược lại với tinh thần của những điều khoảng này đều bị Tối Cao Pháp Viện hoặc một tòa án có thẩm quyền tuyên bố vô hiệu lực ( invalid ,null & void) vì lý do "vi hiến" (anti-constitutional ). Dĩ nhiên phải là một Tối Cao Pháp Viện có thực quyền. Không phải theo kiểu " Tòa Án Nhân Dân Tối Cao " kỳ cục của nước CHXHCNVN theo chương 10 của hiến pháp 1992. Chẳng hạn " Luật Bầu Cử Đại Biểu Quốc Hội" từ điều 25 đến 36 ngang nhiên quy định là Mặt Trận Tổ Quốc (là ngoại vi của đảng CSVN) có tiếng nói quyết định trong việc giới thiệu người ra ứng cử và chỉ có người được giới thiệu mới được ra ứng cử mà thôi, ngang nhiên vi phạm tinh thần của điều 54 hiến pháp. Tuy nhiên vì Tòa Án Nhân Dân Tối Cao chỉ thực sự làm bù nhìn và rất sợ quyền lực của đảng nên cứ thế mà làm lơ, hoặc quá dốt nát nên không hiểu khái niệm "vi hiến " quan trọng đến mức độ nào. 

Có thể nói một cách không sai lầm rằng trong một quốc gia dân chủ thật sự thì chính bản Hiến Pháp là vị Tổng Tư Lênh Tối Cao ( supreme commander in chief ) thực sự của toàn dân và toàn thể quốc gia. Ngoài hiến pháp ra, không có một cá nhân hoặc cơ chế nào có toàn quyền như vậy cả. Chính vì thế, mặc dù CSVN có một bản hiến pháp, nhưng vì Đảng CSVN thực sự là vị tổng tư lệnh tối cao, đứng bên trên và bên ngoài hiến pháp và luật pháp nên không thể gọi chế độ CSVN là một chế độ hiến định đúng nghĩa thật sự. 

3. Yếu tố thứ 3 là bản hiến pháp phải tuyệt đối theo nguyên tắc công bằng và lẽ phải (the principle of justice and equity). Thật vậy, dù một bản hiến pháp hoặc một sắc luật có được một cơ quan lập pháp chính thức (như quốc hội) thông qua nhưng nếu không theo đúng nguyên tắc công bằng và lẽ phải, cũng không thể coi là dân chủ hiến định được. Chẳng hạn hiến pháp của cộng hòa Nam Phi (trước thời kỳ Tổng Thống Mandela lên nắm quyền) do một thiểu số người da trắng dựng lên để thống trị và bóc lột người da đen, đồng thời tước đoạt hoặc giới hạn quyền công dân của người da đen; hiến pháp của Indonesia được thành hình dưới thời cựu tổng thống Suharto, giành nhiều quyền lực và quyền lợi cho phe nhóm của mình trong quân đội Nam Dương; hiến pháp CSVN 1992 giành quyền lãnh đạo tuyệt đối quốc gia cho một đảng phái chính trị duy nhất là đảng CSVN; hiến pháp của Liên Bang Mã Lai giới hạn quyền chính trị của thiểu số dân chúng gốc người Trung Hoa; hiến pháp của Iran giành nhiều quyền lực chính trị cho phe Hồi Giáo cực đoan; hiến pháp của những quốc gia thuộc địa được các mẫu quốc dựng lên để hiến định hóa sự thống trị của ngoại bang, etc... 

Một bản hiến pháp dân chủ thật sự phải áp dụng triệt để nguyên tắc công bằng và lẽ phải, không chấp nhận những bất công căn cứ trên quyền lợi của những phe nhóm có tính cách ý thức hệ (như cộng sản), quân phiệt (như quân đội Nam Dương), giáo phiệt (Hồi Giáo cực đoan) hoặc màu da hoặc bất cứ một bè phái cá nhân nào khác. 

Các quốc gia chậm tiến thường vấp phải những khuyết điểm này và sự cải tiến rất khó khăn vì các phe nhóm rất ít ý thức về quyền lợi lâu dài của dân tộc và chỉ sợ hãi mất đi quyền lợi trước mắt của phe nhóm hoặc cá nhân mà thôi. Các phe nhóm này thường tìm mọi cách để kéo dài tình trạng bất công, kể cả việc xử dụng các tay sai hoặc bù nhìn để núp đằng sau, xử dụng, hầu kéo dài quyền lực và quyền lợi. Bởi vì quyền lợi và quyền lực có một sức cám dỗ rất lớn lao nên những giới có quyền lợi cũng trở nên rất giảo quyệt trong vấn đề bám víu quyền lực và luôn luôn có những cá nhân sẵn sàng làm tay sai hoặc bù nhìn cho ngoại bang hoặc phe nhóm để có địa vị hoặc quyền lợi. Chỉ có những cá nhân và những dân tộc có một trình độ phản tỉnh cao độ, có sự liêm chính của con tim (như Nam Hàn, Thái Lan) mới nhanh chóng vượt thoát. Những dân tộc khác đôi khi phải chờ đợi hằng chục năm để những thế hệ bảo thủ và vị kỷ chết đi thì mới có cơ hội cải tổ. 

Những bản hiến pháp như thế không thể coi là đáp ứng được tinh thần của quan điểm hiến định được vì đi ngược lại với nguyên tắc công bằng và lẽ phải. 

Trong tình huống này thì người dân không những có quyền mà đồng thời có trách nhiệm thay đổi hiến pháp bằng một cuộc cách mạng chân chính. 

KẾT LUẬN 

Nêu trên là 3 yếu tố căn bản của quan điểm hiến định . Hiến định không có nghĩa là chỉ cần có một bản hiến pháp là đủ, như CSVN và những chính quyền độc tài khác lầm tưởng hoặc cố ý không biết. Dĩ nhiên quan điểm hiến định chỉ là một trong 3 quan điểm rường cột của một nền dân chủ nghiêm chỉnh. Hai quan điểm chiến lược nữa cho ý niệm dân chủ là Pháp Trị và Đa Nguyên sẽ được trình bày trong hai bài kế tiếp.

THẾ NÀO LÀ DÂN CHỦ PHÁP TRỊ 

I. DẪN NHẬP: 

Quan điểm "pháp trị" là quan điểm thứ nhì trong khái niệm chung về một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên. Có thể nói rằng không một nền dân chủ nào có thể gọi là chân chính nếu không có yếu tố pháp trị được. Bài này chỉ phân tách quan điểm pháp trị mà thôi. Một cách tóm lược thì chúng ta có thể hiểu "pháp trị" có nghĩa là cai trị bằng một hệ thống luật pháp chí công vô tư, đặt căn bản trên công bằng và lẽ phải và trên tinh thần thượng tôn luật pháp. Quan điểm pháp trị mà chúng ta bàn tới trong bài này là quan điểm pháp trị của người Tây Phương (rule of law hay government by law), không phải quan diểm "pháp trị" của người Đông Phương phát xuất từ chủ trương "Hình Pháp" của nhà đại học giả Trung Hoa là Tuân Tử vào cuối thời Xuân Thu Chiến Quốc (khoảng thế kỷ thứ 3 đến 2  trước Tây Lịch). Câu hỏi chúng ta đặt ra là: 

1. Tại sao Pháp Trị lại đến chậm trễ với người Đông Phương?

2. Đâu là những yếu tính căn bản của quan điểm Pháp Trị? 

II. Tại sao quan điểm Pháp Trị lại đến chậm trễ với người Đông Phương? 

Thật ra quan điểm pháp trị một cách tinh vi và có hệ thống đã đến với nền văn hóa Đông Á nhiều ngàn năm trước người Tây Phương. Thật vậy, Tuân Tử trong thời Xuân Thu Chiến Quốc đã xướng lên thuyết "Hình Pháp" và sau này trở thành cha đẻ của chủ trương Pháp Trị Trung Hoa. Cuốn Nho Giáo của Trần Trọng Kim (Tân Việt-Sàigòn ) ghi rõ về quan điểm hình pháp của Tuân Tử như sau: " Vương giả cốt dùng lễ nghĩa để trị thiên hạ, song nếu có người ngang ngạnh không chịu theo giáo hóa thì tất phải dùng đến hình phạt . Phàm hình pháp là cái gốc của thiên hạ, ngăn cấm điều bạo ngược, ghét bỏ điều ác là để răng những điều chưa xảy ra…phạt người có tội là để khiến cho những kẻ gian ác đừng làm những điều phi pháp và sự thưởng phạt của đấng vương giả bao giờ cũng phải cho công minh và xứng đáng …người thiện kẻ ác phân biệt, ai nấy đều lấy cái trung thành mà thông đạt, không bị sự khuất trệ. Ấy là để khuyên kẻ làm thiện và răng kẻ không làm thiện…"

 

Mới xem qua thì rõ ràng quan niệm pháp trị của Tuân Tử quả nhiên không khác gì quan niệm pháp trị của người Tây Phương. Cái hơn hẳn của Tuân Tử là đã xướng lên học thuyết này khi xã hội Tây Phương còn sống theo chế độ bộ lạc trong những vùng rừng núi Âu Tây lúc đó.

 

Tuy nhiên khi suy xét kỹ lưỡng chúng ta có thể kết luận rằng mặc dù quan diểm pháp trị của Tuân Tử tự nó không có khuyết điểm trầm trọng, nhưng có 2 yếu tố vô cùng bất lợi cho sự áp dụng và phát triển của

quan điểm này:

 

1. Muốn quan điểm này thăng hoa và đạt đến mức độ tột đỉnh của nó thì tinh thần thượng tôn luật pháp phải thật sự tối cao. Điều này có nghĩa là không một cá nhân nào, dù là một đấng quân vương, nếu phạm pháp, mà có thể tránh khỏi hình phạt cả. Chúng ta phải thành thật thừa nhận rằng, mặc dù các chế độ quân chủ Trung Hoa hoặc Đông Á khác đôi khi nhắc nhở đến quan điểm " Một vị vua mà phạm pháp thì cùng tội như thứ dân.", nhưng chỉ là nói cho vui mà thôi. Trên thực tế thì nhà vua đứng trên và đứng ngoài luật pháp. Câu nói của Tống Nho: "Quân sử thần tử thần bất tử bất trung." Mới thật sự phản ảnh được tinh thần luật pháp thời quân chủ ấy. Xã hội Trung Hoa cổ xưa chưa có những điều kiện dân chủ thuận tiện cho quan điểm pháp trị của Tuân Tử được.

 

2. Yếu tố thứ nhì quan trọng nữa là cùng một lượt với chủ trương pháp trị này, Tuân Tử còn chủ trương thuyết "tính ác" nữa. Thật vây, nếu truyền nhân của Đức Khổng Phu Tử là Thầy Mạnh Tử chủ trương "Nhân Trị" ( hoặc Đức Trị ) và  "tính thiện" trong câu "Nhân chi sơ tính bổn thiện" thì Tuân Tử chủ trương ngược lại. Tuân Tử chủ trương rằng vì con người "tính bổn ác" nên cần phải "kiểu tính" tức là giáo dục cái tính ác ấy để trở nên thiện và tốt hơn. Tuân Tử là một người rất có trí tuệ và sự phân tách về tính ác của ông rất sâu sắc. Tuy nhiên khi chủ trương tính ác như thế, về phương diện chiến lược và chiến thuật ông đã đánh mất ưu thế trên mặt trận tâm lý chiến rồi. Chính vì thế nhiều thế hệ liên tiếp tại Trung Hoa và các nước Đông Á khác đã chấp nhận quan điểm "Nhân Trị" ( hoặc Đức Trị ) của Thầy Mạnh Tử một phần lớn vì không thích chủ trương "tính ác" của Tuân Tử. Trong khi đó quan diểm Pháp Trị sâu sắc của ông bị lãng quên nhiều ngàn năm nay. Chúng ta phải thành thật nhận xét rằng tuy  quan điểm pháp trị của ông tự nó là một quan điểm có giá trị, nhưng khi được thi hành trong ý nghĩa của quan điểm "tính ác" thì rất dễ bị bóp méo, hiểu lầm và lợi dụng. Những truyền nhân của ông, đặc biệt là Lý Tư lại lợi dụng chủ trương pháp trị của ông để giúp cho Bạo Chúa Tần Thủy Hoàng đàn áp dân chúng, tiêu diệt giới Nho Gia để củng cố quyền hành. Quan điểm pháp trị từ đó lại càng trở nên dễ bị hiểu một cách sai lầm hơn nữa. Một cách nôm na thì những chế độ Trung Hoa chủ trương pháp trị cho rằng nếu con người bản chất là ác thì pháp luật phải có hình phạt tối đa để răn đe kẻ ác. Lập luận này nếu rơi vào tay các bạo chúa thì thật là một hiểm nguy cho con người.  

Chính vì những yếu tố nêu trên mà miền Đông Á phải chờ đến hơn 2000 năm sau mới tiếp xúc với quan điểm pháp trị đến từ phương Tây, từ một môi trường hoàn toàn mới mẻ mặc dù có một số điểm tương đồng. 

III. Thế thì những yếu tố nào là những yếu tố căn bản của một nền dân chủ pháp trị ngày hôm nay?

Trước hết quan điểm pháp trị của người Tây Phương cũng như nền dân chủ của họ là thành quả của một tiến trình tiệm tiến trải dài nhiều thế kỷ. Nhiều thế hệ đã phải đổ nhiều máu và nước mắt để đạt đến kết quả hôm nay. Tuy nhiên có 2 mốc thời gian quan trọng cho quan điểm pháp trị chúng ta cần ghi nhớ:

 

Thứ nhất là năm 1748 khi  nhà tư tưởng chính trị Pháp là Montesquieu xuất bản cuốn " Vạn Lý Tinh Pháp" (L'esprit des Lois ) và thứ nhì là năm 1787 khi Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua và công bố Bản Hiến Pháp Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

 

Montesquieu có công lớn là hệ thống hóa quan điểm phân quyền trên bình diện tư duy ,và Quốc Hội Hoa Kỳ có công lớn là hiến định hóa quan điểm phân quyền này một cách cụ thể trong một bản hiến pháp thành văn rõ rệt. Từ đó về sau, mọi chiến sĩ tranh đấu cho dân chủ pháp trị trên thế giới đều ý thức rõ rệt rằng, muốn có một nền dân chủ pháp trị đúng nghĩa thì phải có biên giới rõ rệt giữa Tư Pháp, Hành Pháp và Lập Pháp. Nếu ngành tư pháp và các quan tòa không được độc lập tuyệt đối thì không thể nào có dân chủ Pháp Trị được. Chính vì thế các yếu tố sau đây là căn bản của một chế độ pháp trị chân chính: 

1. Sự độc lập tuyệt đối:  Ngành tư pháp (the judiciary) phải có yếu tố hoàn toàn độc lập và đứng ngoài vòng ảnh hưởng của hành pháp, lập pháp hoặc bất cứ một phe nhóm, thế lực hoặc cá nhân nào. Muốn như thế những thẩm phán của các tòa án cấp cao cần phải được Quốc Hội bổ nhiệm trọn đời hoặc đến tuổi hưu trí và chỉ bị cách chức khi phạm các tội đại hình (endictable offences) hoặc bị mất trí năng, bởi Quốc Hội với đa số lưỡng viện chẳng hạn. Dĩ nhiên những thẩm phán ở những tòa án thấp hơn có thể được các cấp chính quyền thấp hơn bổ nhiệm . Tuy nhiên nguyên tắc vẫn là phải làm sao quy định được sự độc lập tuyệt đối của ngay cả những vị thẩm phán cấp thấp hơn này.

2. Sự bình đẳng tuyệt đối giữa những hửu thể pháp lý (legal entities): Đây là một điểm then chốt nữa của quan điểm pháp trị. Mọi hữu thể pháp lý, bất chấp vai trò và đẳng cấp xã hội, đều bình đẳng khi đứng trước tòa án. Điều này có nghĩa là mọi cá nhân, mọi tập thể hoặc thành phần của xã hội dân sự, mọi thành phần của chính quyền hoặc nhà nước đều là những bị cáo hoặc nguyên cáo bằng nhau trước quan tòa chủ tọa một phiên xử. Một cơ quan chính quyền hoặc một vị nguyên thủ quốc gia, nếu làm sai luật cũng sẽ bi chế tài y như bất cứ một cá nhân nào khác. Một cá nhân đưa một cơ quan chính quyền ra tòa để đòi bồi thường một sự thiệt hại do cơ quan ấy gây ra và thắng kiện là một điều bình thường xảy ra trong một chế độ dân chủ pháp trị.

 

3. Pháp trị cũng đặt căn bản trên những nguyên tắc luật pháp chí công vô tư: Những nguyên tắc này phải được ghi rõ trong Hiến Pháp cũng như trong những sắc luật rõ rệt được Quốc Hội thông qua. Quan điểm Nhân Trị hoặc Đức Trị của Thầy Mạnh Tử đã quá ngây thơ và chủ quan, một phần nào đã đóng góp tích cực cho việc xây dựng và củng cố cho nhiều thế hệ đế quyền phi dân chủ tại Đông Á. Thầy Mạnh Tử cho rằng: " Dùng nhân mà trị thiên hạ là phải đạo,dùng bất nhân mà trị thiên hạ là trái đạo- thiên hạ có đạo thì người đức nhỏ làm tôi tớ cho người đức lớn" (Trần Trọng Kim tr.250-251). Nếu chủ trương như vậy thì trên nguyên tắc không có gì sai cả nhưng trên thực tế cùng với chủ trương nâng cao người quân tử lên đến địa vị gần như thần thánh sẽ có nhiều tác hại. Những người  mà xã hội cho là quân tử có nhân có đức sẽ cai trị xã hội, không phải theo những luật pháp rõ rệt do một cơ quan dân cử thông qua, mà theo sự phán xét hoàn toàn chủ quan của một chính nhân quân tử nào đó. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy ngay cả những chính nhân quân tử cũng rất dễ bị cám dỗ và trở nên băng hoại. Chỉ có những nguyên tắc luật pháp chí công vô tư là có thể thật sự làm căn bản cho luật pháp mà thôi. Luật pháp không thể được đặt trên căn bản của ý chí của bất cứ một cá nhân hoặc tập thể cá biệt nào, dù là một thánh nhân, nhiều thánh nhân, hay một đảng phái hoặc nhiều đảng phái chính tri.

 

4. Sự hiện hữu của một luật sư đoàn độc lập: Đây là một yếu tố quan trọng nữa. Lý do là vì nếu trong một xã hội pháp trị tất cả mọi hữu thể pháp lý đều có quyền được bào chữa khi bị truy tố chính thức về hình luật và phải được xử án công khai trong một phiên xử công bằng thì sự hiện hữu của một luật sư đoàn độc lập không thể thiếu. Điều này có nghĩa là ngoài sự hiện diện của cảnh sát và công tố viện đại diện cho chính quyền đứng ra truy tố và quan tòa phán xét theo công lý, còn phải có những luật sư không bị những áp lực của chính quyền đứng ra bênh vực nữa.

 

5. Ngoài ra trên bình diện cao hơn là luật hiến pháp (constitutional law) thì ngành Tư Pháp (thông thường được đại diện bởi một Tối Cao Pháp Viện) phải được quy định minh thị là cơ quan tối cao giữ trọng trách điều hợp và giải quyết những xung đột chung quyết không những giữa những hữu thể pháp lý khác nhau trong xã hội mà còn là trọng tài chung quyết để xử những xung đột giữa Hành Pháp và Lập Pháp nữa. Điều này sẽ củng cố một cách khẳng định sự độc lập tuyệt đối và vô cùng cần thiết của nghành tư pháp, như là một yếu tố then chốt cho quan điểm pháp trị. 

IV. KẾT LUẬN:

Sau khi phân tách như trên, chúng ta mới hiểu được phần nào sự quan trọng chiến luợc của quan điểm "Pháp Trị" trong ý niệm dân chủ Hiến Định, Pháp Trị và Đa Nguyên mà chúng ta chủ trương . Chính vì thế, chúng ta có thể manh dạn kết luận rằng măc dầu trong quá khứ Hồng Kông chưa từng có dân chủ (vì là thuộc địa của Anh Quốc) và trong hiện tại cũng không có dân chủ thực sự (vì hệ thống bầu cử phi dân chủ quá giới hạn do Trung Quốc áp đặt), nhưng phẩm chất của đời sống không kém phần dân chủ vì nhờ có chế độ pháp trị hiện hành.  Hơn ai hết chính Martin Lee, một trong những nhà tranh đấu cho dân chủ tại Hồng Kông đã có những nhận xét tương tự.Trong bài kế tiếp chúng ta sẽ thảo luận về quan điểm "đa nguyên".

THẾ NÀO LÀ DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN 

I. DẪN NHẬP: 

"Đa nguyên" là một yếu tố then chốt nữa của ý niệm dân chủ Hiến Định, Pháp Trị và Đa Nguyên. Dân chủ đa nguyên ( pluralist or pluralistic democracy ) là một trào lưu nổi bật thường được nhắc nhở nhất của cuối thế kỷ 20 và càng thịnh hành hơn trong thiên niên kỷ mới. Muốn nắm vững quan điểm đa nguyên chúng ta cần phải đả thông các vấn đề sau đây: 

1. "Đa nguyên"  khác với "đa đảng" như thế nào?

2. Những yếu tố then chốt của đa nguyên là gì?

3. Những điều kiện nào tối cần thiết cho sự phát huy tột bực của quan điểm đa nguyên? 

II. Dân chủ đa nguyên (pluralist democracy) khác với dân chủ đa đảng (multi-party democracy) như thế nào? 

Trước hết, yếu tố đa nguyên (pluralism) có một ý nghĩa rộng rãi và bao hàm hơn là yếu tố đa đảng (multi-party). Lý do là vì trong xã hội đa diện và phức tạp ngày hôm nay, không phải duy nhất chỉ có các đảng phái chính trị mới đóng góp hữu hiệu vào sự điều hướng xã hội, và tiến trình hình thành (formulation ) cũng như thực thi (implementation) các chính sách (policies) quốc gia. Nhiều cá nhân (individuals) , tập thể (groups) có tính cách phái tính (sexual), khuynh hướng tình dục (sexual preferences) xã hội (social), từ thiện (charitable), tôn giáo (religious), nghề nghiệp (trades), thương mại (financial) , kinh tế (economic ) , bảo vệ môi sinh (environmental) etc…vẫn có thể đóng góp tích cực và hữu ích vào các chính sách quốc gia .

Chúng ta có thể kết luận tương đối chính xác rằng yếu tố đa đảng là một thành phần cấu tạo (constituent part) của yếu tố đa nguyên. Tuy nhiên để hiểu sâu sắc hơn ý niệm dân chủ Hiến Định, Pháp Trị và Đa Nguyên mà chúng ta chủ trương, chúng ta phải ý thức rằng cả hai ý niệm "đa đảng" lẫn "đa nguyên" đều chỉ là những "thành phần cấu tạo" của một ý niệm dân chủ bao  quát và sâu sắc hơn. Các ý niệm đa đảng và đa nguyên tự chúng không đồng nghĩa với ý niệm dân chủ triệt để được. Lý do là vì như là một ý niệm dân chủ triệt để, ý niệm dân chủ Hiến Định, Pháp Trị và Đa Nguyên đòi hỏi một sự cởi trói toàn diện (total and complete unshackling) không những cho mọi cá nhân (individuals) mà cho mọi thành phần của xã hội dân sự (civil society) nữa.

Dĩ nhiên thực thi ý niệm đa đảng là bước cởi trói đầu tiên và cần thiết, để mở đầu cho một tiến trình cởi trói toàn diện và triệt để hơn. Chính vì thế, sau khi điều 4 của bản hiến pháp 1992 hiện hành của đảng CSVN được hủy bỏ, để thực thi ý niệm đa đảng ,thì tiến trình dân chủ hóa sẽ không chỉ dừng bước ở mức độ này mà sẽ phải đi những bước đi quan trọng kế tiếp .  

III. Những yếu tố then chốt của quan điểm đa nguyên: 

Có 3 yếu tố then chốt của quan điểm đa nguyên: 

1.Nhiều tụ điểm của quyền lực chính trị : thật vậy trong một chế độ dân chủ đa nguyên, quyền lực chính trị phải luôn luôn phát xuất từ nhiều tụ điểm khác nhau. Những tụ điểm này không nhất thiết phát xuất từ những đảng phái chính trị , cũng không phải nhất thiết phát xuất từ những tập thể có tổ chức chặt chẽ, hoặc những cơ cấu thuộc thượng tầng xã hội hoặc chính trị ( social or political super-structure). Trái lại, quyền lực chính trị càng xuất phát từ những tụ điểm càng có tính cách hạ tầng cơ sở (grass-roots) và càng gần gũi với con người cá thể ( the individual human person) lại càng thể hiện đúng đắn quan điểm đa nguyên. 

2.Sự hiện hữu của đối lập chính trị ( political opposition ). Có thể tóm lược rằng bằng tác động chấp nhận sức mạnh chính trị của đa số, một chế độ dân chủ đa nguyên vẫn phải trân trọng và nuôi dưỡng sự hiện hữu và đóng góp tích cực của thiểu số đối lập. Tôn trọng quyền hiện hữu và sự đóng góp của thiểu số đối lập là một yếu tố căn bản của dân chủ đa nguyên. Thật vậy, mặc dầu một nền dân chủ đa nguyên trong ý nghĩa tuyệt đối của nó đặt căn bản trên nhiều tụ điểm khác nhau của quyền lực chính trị, hệ luận đương nhiên là sẽ có nhiều đảng phái chính trị khác nhau trên chính trường. Tuy nhiên trong một xã hội đa nguyên thật sự, sự vận hành của những động cơ chính trị khác nhau (the operations of various political dynamics ) sẽ luôn luôn đưa đến một tình trạng nhị nguyên chính trị thực tế (de facto polarist political system) gồm một đảng phái hoặc một liên minh các đảng phái (an alliance of political parties) nắm chính quyền hoặc nắm đa số trong quốc hội, và một đảng phái hoặc một liên minh các đảng phái đối lập hoặc nắm thiểu số trong quốc hội. Chúng ta nên phân biệt rõ rệt sự khác biệt lớn lao trong bản chất giữa "tình trạng nhị nguyên chính trị thực tế" nêu trên ( mà bản chất vốn là đa nguyên trong ý nghĩa chân thật của nó) và tình trạng "đa nguyên chính trị trá hình" tại Hoa Kỳ và Anh Quốc (mà bản chất thật sự chỉ là nhị nguyên chính trị mà thôi) với tất cả những khuyết điểm của nó. 

3. Sự tham gia tích cực của mọi thành phần của xã hội dân sự (civil society). Quan điểm dân chủ Hiến Định, Pháp Trị và Đa Nguyên đặt nền tảng trên sự xây dựng và phát triển tối đa của xã hội dân sự, và chính quyền (the state)  chỉ điều hợp những xung đột giữa các thành tố của xã hội dân sự qua một hệ thống pháp trị (rule of law) công minh mà thôi. Trong một nền dân chủ thật sự chính quyền hoặc nhà nước  chỉ tạo ra những khung sườn (frameworks) để đảm bảo tối đa nguyên tắc công bằng và lẽ phải trong xã hội ( justice and equity in society), trong khi đó xã hội dân sự (civil society) phải được thăng hoa tối đa. Trong chiều hướng đó sự tham gia tích cực của mọi thành tố của xã hội dân sự sẽ là một yếu tố đặc thù của dân chủ đa nguyên. IV. Những điều kiện nào tối cần thiết cho sự phát huy tột đỉnh của yếu tố đa nguyên? Vì yếu tố đa nguyên chỉ phát huy tột đỉnh trong môi trường của một xã hội dân sự thăng hoa, có 3 điều kiện tất yếu (necessary) để yếu tố đa nguyên phát huy tột đỉnh. Theo quan điểm của người viết, chúng ta phải thể chế hóa (institutionalize) 3 điều kiện này bằng cách hiến định hóa chúng trong bản hiến pháp của một nước Việt Nam dân chủ thật sự trong tương lai. Ba điều kiện tất yếu ấy là:

a. Phương thức bầu cử nhạy bén theo thể thức "đại diện theo tỷ lệ" (proportional representation)

b. Các hình thức phân quyền triệt để và toàn diện.

c. Chế độ pháp trị (rule of law)  nghiêm minh. 

1.Thế nào là phương pháp bầu cử "đại diện theo tỷ lệ"? 

Đây là phương thức bầu cử (voting methods) nhạy bén đủ (sensitive enough) để đạt đến mục tiêu vô cùng quan trọng là những đảng phái, phe nhóm hoặc cá nhân ra tranh cử trong các cơ chế điều hành quốc gia sẽ đạt được một tỷ lệ số ghế tương đối tương xứng với mức độ ủng hộ quần chúng (level of public support) mà họ có. Một đảng phái có 5% sự ủng hộ sẽ có khoảng 5% số ghế trong Quốc Hội. Một đảng phái có 10% sẽ có 10% và một đảng phái có 51% sẽ có xác xuất rất cao nắm đa số trong quốc hội. Không một đảng phái nào tương đối có thực lực có thể bị loại ra khỏi trung tâm quyền lực chính trị cả. Úc Đai Lợi, Đức Quốc, Sweden, Switzerland, Belgium, phần lớn các nước Âu Châu theo phương thức này. Phương thức bầu cử này đối nghich với phương thức bầu cử "ngựa chạy về nhất" (first past the post) hoặc "thắng làm vua" (winners take all) đang hiện hành tại Hoa Kỳ và Anh Quốc. Phương thức first past the post hoặc winners take all thường thiên vị độc chiếm thị trường chính trị cho những đảng phái lớn và có uy lực trong khi những đảng phái nhỏ hơn hoàn toàn bị tước đoạt tiếng nói trong chính trường. Điều này là một trở ngại rất lớn cho sự phát triển tối đa của mọi thành tố của xã hội dân sự, và sự triệt tiêu những đảng phái nhỏ hơn. Nhận thấy khuyết điểm này,các quốc gia dân chủ trên thế giới ngày càng tiến đến với phương thức bầu cử "đại diện theo tỷ lệ" thay vì "ngựa chạy về nhất". Vương Quốc Thống Nhất Anh (United Kingdom) đã gần đây chuyển qua phương pháp "đại diện theo tỷ lệ" để bầu đại diện của họ vào Quốc Hội Âu Châu (European Parliament) mặc dầu tại quốc hội nội địa vẫn không thay đổi. Các Quốc Hội địa phương tại Scotland và Wales đã theo "đại diện theo tỷ lệ". Năm 1994 Nam Phi , năm 1993 tại New Zealand, Nhật Bổn, Nga Sô và Mexico. Urkraine cũng đã chọn hình thức bầu cử này thay vì lối bầu cử "ngựa chạy về nhất" hoặc "thắng làm vua" cũ kỹ của thế kỷ 18. (xem thêm chi tiết: http://www.fairvote.org/)

Có thể kết luận rằng nếu một quốc gia như Hoa Kỳ chuyển mình theo phương thức bầu cử "đại diện theo tỷ lệ" thì sẽ có một cuộc cách mạng xã hội lớn lao xảy ra và một sự tái phối trí quyền lực (a re-aligment of forces) quan trọng để giảm bớt bất công xã hội. Sự tham gia của các tầng lớp quần chúng ở hạ tầng cơ sở sẽ gia tăng. Các chỉ dẫn cho thấy trong 21 nền dân chủ tại Tây Âu và Bắc Mỹ thì tỷ lệ dân chúng đi bầu tại Hoa Kỳ gần như thấp nhất. Năm 1994 36% bầu cử Quốc Hội. Năm 1996 có 44% bầu cử Quốc Hội. (xem thêm chi tiết: http://www.fairvote.org/).

Chúng ta phải mạnh dạn kết luận rằng, nếu một trong những yếu tính của dân chủ đa nguyên là quyền lực chính trị phải phát xuất từ nhiều tụ điểm khác nhau thì chúng ta không thể chấp nhận một phương thức bầu cử có khuynh hướng đem lại độc quyền chính trị cho 1 hoăc 2 hoặc 3 đảng phái lớn được. Huống hồ là phương thức ấy đã quá cũ và đương bị thoái trào. 

2. Các hình thức phân quyền triệt để và toàn diện:

Sự phân quyền trong quốc gia cũng là một phương thức quan trọng để tạo ra nhiều tụ điểm quyền lực khác nhau. Trước hết tuy ý niệm phân quyền phức tạp nhưng có thể được tóm lược trong 3 hình thức chính và cần phải được hiến định hóa:

a) Phân quyền hàng ngang (Separation of powers): Đây là sự phân quyền giữa Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp để đưa đến một hệ thống kiểm soát và quân bình (checks and balance) như trong Hiến Pháp Hoa Kỳ.

b) Phân quyền hàng dọc (decentralization of powers): Đây là sự phân quyền từ trung ương chia cho các địa phương. Chính vì thế còn được gọi là"địa phương phân quyền". Chẳng hạn tại Hoa Kỳ và Úc Đại Lợi hoặc Đức Quốc thì các tiểu bang có rất nhiều quyền được hiến pháp quy định. Trong một nước Việt Nam tương lai cũng cần phải trao cho các tỉnh, các làng xã những quyền hạn rộng rãi để khuyến khích sự tham gia tích cực của hạ tầng cơ sở. Trong ý niệm phân quyền hàng dọc này, các chính quyền địa phương hoặc tiểu bang có những cơ sở dân cử như quốc hội tiểu bang hoặc các Hội Đồng Tỉnh  có thể có thẩm quyền thông qua các sắc luật địa phương và quyết định cũng như thi hành các chính sách (policies) trong pham vi hiến pháp quy định. Các chính quyền tại địa pương cũng có luôn quyền bổ nhiệm trực tiếp các viên chức thi hành các chính sách cho mình.

c)  Tảng quyền (deconcentration of powers) : ý niệm tảng quyền giới hạn hơn ý niệm phân quyền hàng dọc nhiều. Tảng quyền có nghĩa là chính quyền trung ương vẫn nắm giữ quyền hành trên nguyên tắc, tuy nhiên phân phối về các địa phương để có nhiều feedbacks trực tiếp từ hạ tầng cơ sở xã hội, hầu có thể đáp ứng nguyện vọng người dân nhạy bén hơn. 3. Chế Độ pháp trị (rule of law) dĩ nhiên là một điều kiện vô cùng thiết yếu. Lý do đơn giản là vì trong một mội trường đa nguyên phức tạp và có nhiều thành phần tham dự như thế, thì phải có luật pháp chí công vô tư và những trọng tài có thực quyền. Trong bài trước chúng ta đã thảo luận đến yếu tố pháp trị. Nơi đây chúng ta ý thức được mức độ tương sinh (co-existence), tương tùy (inter-dependence) của "Đa Nguyên" và "pháp trị" quan trọng đến mức độ nào. Hầu như nếu không có "pháp trị" thì không thể có sự phát sinh và hiện hữu lâu dài của "đa nguyên", vì nếu không có nguyên tắc "tuyệt đối bình đẳng giữa những hữu thể pháp lý" thì các hữu thể pháp lý có nhiều quyền lực như nhà nước (the state) đã tiêu diệt hoặc đè bẹp mọi thành tố của xã hội dân sự (civil society) để nắm độc quyền (như trong xã hội cộng sản hôm nay tại Việt Nam) rồi.  

V. Kết Luận: 

Chúng ta là một dân tộc bất hạnh vì tham vọng và dã tâm của các thế lực Thực Dân và các siêu cường của thế giới, và vì nhiều thế hệ lãnh đạo đã thiếu sự liêm chính của con tim để canh tân và dân chủ hóa đất nước kịp thời. Tuy nhiên con đường dân chủ hóa đất nước là một con đường vừa chông gai, vừa hàm chứa nhiều cơ hội nếu chúng ta sáng suốt. Nếu chúng ta sai lầm sẽ đi vào những con đường hạn hẹp, giảm bớt cơ hội, thậm chí trở thành tù nhân của các thế lực tài phiệt hoặc kỹ nghệ quốc tế. Tuy nhiên chúng ta vẫn có thể có cơ hội để làm lại ngay từ đầu bằng những ý niệm về dân chủ cao đẹp và khai phóng nhất của loài người. Trong khi những dân tộc với những nền dân chủ lâu đời nhất lại phải vật lộn với những thế lực bảo thủ hùng mạnh. Khi nói đến vận mệnh và tương lai lâu dài của một dân tộc thì chưa chắc dân tộc chúng ta sẽ không vượt trội vào một thời điểm nào đó trong tương lai.