Warning: include(/home/content/b/a/o/baove/html/modules/mod_archive/tmpl/list.php) [function.include]: failed to open stream: No such file or directory in /home/content/51/4775551/html/index.php on line 8

Warning: include() [function.include]: Failed opening '/home/content/b/a/o/baove/html/modules/mod_archive/tmpl/list.php' for inclusion (include_path='.:/usr/local/php5/lib/php') in /home/content/51/4775551/html/index.php on line 8

Warning: include(/home/content/b/a/o/baove/html/libraries/joomla/filter/help.php) [function.include]: failed to open stream: No such file or directory in /home/content/51/4775551/html/index.php on line 11

Warning: include() [function.include]: Failed opening '/home/content/b/a/o/baove/html/libraries/joomla/filter/help.php' for inclusion (include_path='.:/usr/local/php5/lib/php') in /home/content/51/4775551/html/index.php on line 11

Warning: session_start() [function.session-start]: Cannot send session cookie - headers already sent by (output started at /home/content/51/4775551/html/index.php:8) in /home/content/51/4775551/html/libraries/joomla/session/session.php on line 423

Warning: session_start() [function.session-start]: Cannot send session cache limiter - headers already sent (output started at /home/content/51/4775551/html/index.php:8) in /home/content/51/4775551/html/libraries/joomla/session/session.php on line 423

Warning: Cannot modify header information - headers already sent by (output started at /home/content/51/4775551/html/index.php:8) in /home/content/51/4775551/html/libraries/joomla/session/session.php on line 426

Warning: Cannot modify header information - headers already sent by (output started at /home/content/51/4775551/html/index.php:8) in /home/content/51/4775551/html/templates/ja_purity/ja_templatetools.php on line 44
Tương Lai Nền Chính Trị Việt Nam
 

Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home

Tương Lai Nền Chính Trị Việt Nam

E-mail Print

Thế kỷ 20 vừa qua là một thế kỷ nhiều biến chuyển cho các quốc gia và xã hội Ðông Á. Có quốc gia hoặc xã hội đã vượt qua các thăng trầm và biến cố lớn lao sớm để canh tân kinh tế và xây dựng dân chủ (Nhật Bản). Có quốc gia và xã hội gặp những trở lực lớn lao lúc đầu, nhưng sau đó nhờ quyết tâm và sáng suốt của giới lãnh đạo, đã vượt thắng và gia nhập hàng ngũ các quốc gia và xã hội tiến bộ (Hồng Kông, Nam Hàn, Ðài Loan). Sau cùng có những quôc gia kém may mắn, rơi vào ách độc tài cộng sản, và kết quả là đi sau chót trên con đường canh tân và dân chủ hóa đất nước như Trung Quốc và Việt Nam.

Sự thật hiển nhiên trước mắt của người dân Việt Nam và Trung Hoa là dân chủ sẽ đến, nhưng bằng những bước đi tương đối tiệm tiến, vì tính bảo thủ và phản tiến bộ của hai tập đoàn cộng sản lãnh đạo các dân tộc này.

Câu hỏi trong tâm thức của chúng ta là:
Trong thế kỷ 21, tương lai nền chính trị Việt Nam là gì?

Dĩ nhiên, ai cũng đồng ý là nền chính trị tương lai Việt Nam (cũng như Trung Quốc) sẽ là một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên.

Tuy nhiên nói như thế chưa đủ. Lý do là vì một quan điểm dân chủ như thế vẫn còn phải sinh hoạt trong vòng cương tỏa của nền văn hóa và chính trị truyền thống. Chính vì thế, muốn hiểu rõ bản chất thật sự của nền chính trị Việt Nam trong tương lai, chúng ta phải phân tích xuất xứ của các quan điểm then chốt tạo thành nền chính trị tương lai.
Người Việt ngưỡng mộ và sinh sống trong các chế độ dân chủ Tây Phương, không ít thì nhiều, đều nhận thấy lòng hoài nghi của dân chúng tây phương đối với nền chính trị của họ. Chính trị được người tây phương hiểu một cách khách quan như là nghệ thuật hoặc khoa học về phương pháp trị quốc. Tuy nhiên trên thực tế nhiều chính trị gia lại có cái nhìn hoài nghi (cynical) hơn về nền chính trị của họ.

Cố tổng thống Ronald Regan nói:
“ Nhiều người cho rằng chính trị là nghề nghiệp lâu đời thứ nhì. Tôi đã học hỏi được rằng nó đặc biệt giống nghề nghiệp lâu đời thứ nhất.”

Cố tổng thống và triết gia Thomas Jefferson nói:
“Tôi chưa bao giờ xem sự khác biệt về chính kiến, tôn giáo, triết học như là lý do (chính đáng) để ảnh hưởng đến tình bạn”.

Regan thì so sánh chính trị với nghề đĩ điếm (nghề nghiệp lâu đời thứ nhất) còn Jefferson thì không đánh giá chính trị cao bằng mức độ đánh giá của người Ðông Á như sẽ phân tách sau.

Lý do nguyên thủy là vì chính trị tây phương phát xuất từ thành phố Nhã Ðiển của Hy Lạp, căn cứ trên một xã hội mà giai cấp công dân (gồm những người tự do) thống trị một tầng lớp nô lệ đông đảo, đàn ông thống trị đàn bà và người cha có quyền tuyệt đối với con cái. Thánh kinh của chính trị Nhã Ðiển là cuốn sách “Politics” của triết gia Aristotle, quy định ba giềng mối căn bản của xã hội thời bấy giờ là: Quan hệ chủ nhân và nô lệ, quan hệ chồng và vơ, và sau cùng là quan hệ cha và con. Giềng mối này tương tự nhưng khắc khe hơn quan điểm Tam Cương (quân sư phụ) của Khổng Giáo tại Ðông Á rất nhiều vì yếu tố bất công giai cấp của Hy Lạp.

Tuy cũng chính quan điểm dân chủ của Nhã Ðiển (sau khi đã được lý tưởng hóa và gọt dũa tất cả những bất công giai cấp) là động cơ để thúc đẩy các cuộc cách mạng dân chủ tại tây phương, nhưng nền chính trị dân chủ tây phương chưa bao giờ vượt thoát được trọn vẹn yếu tính phân chia giai cấp cố hữu của văn hóa truyền thống mình. Yếu tính giai cấp của xã hội tây phương chính là ngòi nổ của những cuộc cách mạng lớn trên thế giới. Ðông Á không có những yếu tính giai cấp tương tự.

Tại Ðông Á, nền chính trị truyền thống được nhìn từ một góc cạnh khác.

Từ thời Ðông Chu Liệt Quốc (thế kỷ 6 đến thế kỷ 3 trước công nguyên), các triết gia Trung Quôc đã tranh luận sôi nổi về các học thuyết chính trị khác nhau. Chúng ta có các quan điểm Ðức Trị hoặc Nhân Trị của Khổng Tử, Kiêm Ái của Mặc Tử và Pháp Trị của Tuân Tử.
Nhân Trị chủ trương “nhân chi sơ tính bổn thiện”. Pháp Trị chủ trương “nhân chi sơ tính bổn ác” và Kiêm Ái chủ trương bản chất con người vốn phi thiện phi ác, hoàn cảnh và giáo dục tạo nên thiện và ác.

Sau khi quan điểm Pháp Trị được thừa tướng Lý Tư nhà Tần áp dụng và thanh toán chư hầu, dựng nên đế nghiệp cho Tần Thủy Hoàng, thì chính sách tàn bạo của nhà Tần đã hoàn toàn mất lòng dân. Chính vì thế, khi Lưu Bang quật khởi xây dựng Hán triều thì quan điểm của Khổng Tử được tôn sùng và trọng dụng.

Quan điểm chính trị này của Khổng Tử được Thầy Tăng Sâm diễn dịch rõ nhất trong cuốn Ðại Học như sau qua hai ý niệm:

“Tam Cương Lĩnh”: Ðại học chi đạo tại minh minh đức, tại tân (thân) dân, tại chỉ ư chí thiện.
Có thể diễn giải ý niệm này như sau: cái học lớn (để người quân tử chuẩn bị đi làm chính trị) là làm sáng cái đức sáng của mình, làm cho dân ngày một tiến bộ (có người cho là phải gần với dân hơn) và (chỉ) dừng lại khi đạt đến sự chí thiện.

“Bát điều mục”: cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.
Có thể diễn giải ý niệm thứ hai này như sau: muốn làm chính trị nghiêm chỉnh, người quân tử phải biết phân tách sự việc để dùng trí tuệ soi sáng tìm hiểu (cách vật trí tri), ý phải chân thành và tâm phải chính đáng (thành ý chính tâm), để làm căn bản cho việc tu thân (không gạt người không gạt chính mình), sau đó phải giải quyết tốt đẹp mọi việc riêng (gia đình), rồi mới có thể ra đời gánh vác để góp phần trị quốc và đem lại thái bình cho thiên hạ.

Vào thời Ðông Chu thì “quốc” là một nước chư hầu và “thiên hạ” là nguyên nước Trung Hoa rộng lớn.
Nhìn qua quan điểm chính trị này chúng ta thấy xã hội Ðông Á truyền thống đề cao vai trò của người quân tử và giới sĩ phu, xem chính trị không phải đơn thuần là kỷ thuật trị nước, mà gắng liền chính trị với khả năng tâm linh cá nhân (tu thân) cũng như trách nhiệm phải khai phóng tâm linh cho tha nhân để đạt đến sự toàn thiện cho nhân lọai (chỉ ư chí thiện).

Ðông Á truyền thống có giai cấp (Sĩ Nông Công Thương). Tuy nhiên các giai cấp này không phải là những giai cấp khép kính như quan niệm giai cấp của Hy Lạp và thành phố Nhã Ðiển thủa xưa. Ngay cả một người nông dân nghèo, nếu học giỏi cũng sẽ trở thành khoa bảng và gia nhập giai cấp sĩ phu. Tính vận hành xuyên giai cấp tương đối cao và thường xuyên.

Chính vì thế, các cuộc nội dậy tại Ðông Á, trong lịch sử, đều là những cuộc nổi dậy để lật đổ triều đại này và thay thế bằng một triều đại khác (dynastic revolutions). Những kẻ lãnh đạo các cuộc quật khởi này không chê trách hoặc phê phán trật tự xã hội Khổng Mạnh. Họ chỉ chê trách và phê phán triều đại đương thời không phải là minh quân để áp dụng nghiêm chỉnh kỷ cương mà thánh hiền đã đề ra. Mục đích là thay thế triều đại, không phải thay thế trật tự xã hội.

Trong khi đó, tại Âu Châu, thì các cuộc cách mạng là những cuộc cách mạng giai cấp (class revolutions), với mục đích thay đổi trật tự xã hội này bằng một trật tư xã hội khác: Cách mạng Magna Carta (1215) thì các nhà quý tộc tranh đấu chống vương quyền, cách mạng Pháp (1789) thì giới bình dân chống lại vương quyền, quý tộc và giáo hội, cách mạng Bolshevik (1917) thì vô sản chống lại tư bản.

Tóm lại yếu tố giai cấp chưa bao giờ là yếu tố bức xúc thực sự đằng sau các biến động chính trị trong xã hội Ðông Á truyền thống. Ngay cả ngày hôm nay, một phần nào đó, quan điểm giai cấp truyền thống bao gồm sĩ, nông, công, thương vẫn còn tồn tại và được chấp nhận trong tâm thức của người dân Ðông Á.

Lý do là vì, cũng như quan điểm chính trị truyền thống, quan điểm giai cấp truyền thống cũng đặc căn bản trên đạo đức thay vì quyền lợi vật chất như tại Tây Phương.

Từ đó chúng ta phải kết luận rằng, nền chính trị Việt Nam trong tương lai, đành rằng sẽ mang những yếu tính rõ rệt của một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên hiển nhiên của tây phương. Nhưng trong bản chất của nó sẽ phải thể hiện đậm nét, quan điểm đức trị, hoặc nhân trị của Khổng Giáo, đã ăn sâu vào tâm thức của từng người dân.

Chúng ta có một cộng đồng người Việt đông đảo sinh sống tại các quốc gia dân chủ tây phương. Dĩ nhiên nền dân chủ của họ tiến bộ, từ lâu đã khai phóng cho những giai cấp nô lệ, giới phụ nữ và bảo vệ các nhân quyền và dân quyền căn bản con người. Từ những sự khai phóng đó, khả năng lao động phát huy vô giới hạn, đem lại sự phồn vinh vật chất.

Tuy nhiên, chúng ta cũng nhìn thấy những khuyết điểm lớn lao của những xã hội phồn vinh này, cũng như những bất công xã hội còn tồn tại và không thể chối cãi ngay trong hệ thống luật pháp của họ mà tác giả sẽ trình bày trong một dịp khác. Chỉ cần đơn cử trường hợp của một người nghèo, phải ra tòa đối đầu với một đa triệu phú hoặc một tập đòan tư bản, thì chúng ta sẽ nhìn thấy khuyết điểm trầm trọng của quan điểm pháp trị tại Hoa Kỳ và một số quốc gia Tây Phương.

Ở mức độ nào đó, nền chính trị tây phương có nhiều điểm tương đồng với quan điểm “nhân chi sơ tính bổn ác”, cần có những hành động cách mạng hoặc luật pháp nghiêm minh để kềm chế “tính ác” của những giai cấp thống trị, ích kỷ, hoặc của những “phạm nhân” trong tư cách cá nhân của họ.

Trong khi đó, như đã trình bày trên, nền chính trị Ðông Á, dưới ảnh hưởng của Nho Giáo, từ thời Lưu Bang dựng lên Hán triều, đã thấm nhuần quan điểm “nhân chi sơ tính bổn thiện”.

Dĩ nhiên cả hai quan điểm đều có ưu và khuyết. Trách nhiêm của chúng ta là bỏ khuyết và lấy ưu.

Xã hội Ðông Á của chúng ta, vào thế kỷ 21, có cơ hội nắm bắt và xử dụng một quan điểm dân chủ tiến bộ, mà người dân Tây Âu đã đổ máu qua nhiều thế hệ để tranh đấu được, đồng thời chúng ta phải dung hợp với quan điểm chính trị căn cứ trên đạo đức truyền thống của chúng ta.

Chính trị trong tương lai và hậu cộng sản của Việt Nam, lúc đó, sẽ không phải là một mô hình tòan diện của Tây Phương, và hy vọng sẽ không bị so sánh với “nghề nghiệp lâu đời nhất của nhân loại”, như chính trị gia lão luyện và cựu tổng thống Hoa Kỳ là Ronald Regan đã nhận xét với nhiều cay đắng.

Sydney 21 tháng 2 năm 2010
Luật Sư Ðào Tăng Dực