Warning: include(/home/content/b/a/o/baove/html/modules/mod_archive/tmpl/list.php) [function.include]: failed to open stream: No such file or directory in /home/content/51/4775551/html/index.php on line 8

Warning: include() [function.include]: Failed opening '/home/content/b/a/o/baove/html/modules/mod_archive/tmpl/list.php' for inclusion (include_path='.:/usr/local/php5/lib/php') in /home/content/51/4775551/html/index.php on line 8

Warning: include(/home/content/b/a/o/baove/html/libraries/joomla/filter/help.php) [function.include]: failed to open stream: No such file or directory in /home/content/51/4775551/html/index.php on line 11

Warning: include() [function.include]: Failed opening '/home/content/b/a/o/baove/html/libraries/joomla/filter/help.php' for inclusion (include_path='.:/usr/local/php5/lib/php') in /home/content/51/4775551/html/index.php on line 11

Warning: session_start() [function.session-start]: Cannot send session cookie - headers already sent by (output started at /home/content/51/4775551/html/index.php:8) in /home/content/51/4775551/html/libraries/joomla/session/session.php on line 423

Warning: session_start() [function.session-start]: Cannot send session cache limiter - headers already sent (output started at /home/content/51/4775551/html/index.php:8) in /home/content/51/4775551/html/libraries/joomla/session/session.php on line 423

Warning: Cannot modify header information - headers already sent by (output started at /home/content/51/4775551/html/index.php:8) in /home/content/51/4775551/html/libraries/joomla/session/session.php on line 426

Warning: Cannot modify header information - headers already sent by (output started at /home/content/51/4775551/html/index.php:8) in /home/content/51/4775551/html/templates/ja_purity/ja_templatetools.php on line 44
Nhìn Về Tương Lai
 

Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Nhận Định Latest Nhìn Về Tương Lai

Nhìn Về Tương Lai

E-mail Print

1.      Tương lai thế giới 

Kinh Tế 

Cơn khủng hoảng vô tiền khoáng hậu phát xuất từ tài chánh địa ốc tại Hoa Kỳ cũng sẽ qua đi. Tuy nhiên vào thế kỷ 21, trên phương diện kinh tế, Hoa Kỳ và thế giới phải đối đầu với các vấn nạn trường kỳ sau đây: 

Quan trọng nhất là làm thế nào để chuyển hướng từ một nền kinh tế toàn cầu lệ thuộc vào dầu hỏa sang những dạng năng lượng có khả năng tái sinh (renewable), mà không tạo ra những khủng hoảng trầm trọng. Giá xăng dầu đang có chiều hướng tăng vọt vì mức cầu quá cao trong khi trữ lượng để cung ứng không thỏa mãn được nhu cầu. Chiều hướng tăng trưởng giá này không hề thuyên giảm.

Giải pháp biến thực phẩm thành năng lượng có hậu quả tai hại là làm thực phẩm trở nên khan hiếm hơn và tạo ra nạn đói tại các quốc gia nghèo. Các nguồn năng lượng khác như năng lượng mặt trời, gió, thủy triều, hydrogen, nguyên tử lực…có những giới hạn cũng như ưu và khuyết điểm cần phải giải quyết. 

Kế đó là làm sao giải quyết vấn nạn các hàng rào quan thuế giữa các quốc gia, và sự trợ cấp kinh tế (subsidies) bóp méo giá cả, đem nhiều thiệt hại các quốc gia chậm tiến.

Một mặt, các quốc gia kỹ nghệ như Hoa Kỳ và các nước tiền tiến, luôn kêu gọi sự hủy bỏ hàng rào quan thuế giữa các quốc gia liên hệ đến những sản phẩm tiêu thụ (consumer goods) hầu gia tăng mậu dịch. Ðiều này sẽ giúp hàng hóa sản xuất từ các quốc gia tiền tiến khống chế thị trường các quốc gia chậm tiến, và hủy diệt những kỷ nghệ nội địa thô sơ của các nước nhược tiểu này.

Mặt khác, các quốc gia tiền tiến này như Hoa Kỳ, Nhật Bổn, Liên Hiệp Âu Châu lại trợ cấp nhiều tỷ Mỹ Kim cho nền nông nghiệp thiếu hiệu năng của họ, giúp cho nông phẩm của họ cạnh tranh một cách bất công và tiêu diệt nông phẩm của các nông dân sản xuất từ các nước chậm tiến. Có thể nói rằng, thay vì viện trợ cho các nước chậm tiến, các cường quốc kinh tế chỉ cần chấm dứt các trợ cấp nông nghiệp cho nông dân của họ, là các nước chậm tiến có thể cạnh tranh, sống còn trong sự công bằng, tôn nghiêm và tự trọng rồi. 

Vấn nạn thứ ba là việc bảo vệ môi sinh và sự sống còn của loài người: Sự phát triển kinh tế vô điều kiện của nhân loại cũng chính là nguyên nhân lớn nhất đem đến sự hủy diệt môi sinh và khả năng hủy diêt chính loài người. Có thể nói rằng tình trạng tệ hại hôm nay là kết quả của sự phát triển kinh tế vô ý thức tại Âu Châu và Hoa Kỳ kể từ cuộc cách mạng kỹ nghệ tại Liverpool, Anh Quốc vào thế kỷ 16. Hiện giờ, với dân số 4% thế giới, Hoa Kỳ chịu trách nhiệm 25% sự ô nhiễm toàn cầu.

Tuy nhiên, lập luận của Hoa Kỳ là: đó là quá khứ. Trong hiện tại, các quốc gia đang phát triển mạnh như Trung Quốc và Ấn Ðộ phải tích cực tham gia vào việc giảm ô nhiễm môi sinh thì mới có hiệu quả. Một mình Hoa Kỳ và các quốc gia tiền tiến khác phải làm việc này là một sự hy sinh trước hết là vô ích, và sau đó là không công bằng cho Hoa Kỳ.

Ngược lại, Trung Quốc và Ấn Ðộ, cũng như các quốc gia đang phát triển thì lập luận rằng: nếu không có quá khứ thì không có hiện tại và tương lai. Các nước Tây Phương sở dĩ phát triển được là vì đã tự do hủy diệt môi sinh. Bây giờ các quốc gia đó phải có trách nhiệm bảo vệ môi sinh nặng hơn, và dành nhiều sự rộng rãi cho các quốc gia chậm tiến để bắt kịp đà phát triển. Chính vì lập luận này, các chỉ tiêu bảo vệ môi sinh cho Trung Quốc, Ấn Ðộ và các nước đang phát triển phải khiêm nhượng hơn. Một cách tổng quát, nguyên tắc này được các nước Liên Hiệp Âu Châu và tiền tiến khác chấp nhận, trừ Hoa Kỳ dưới sự lãnh đạo của TT G. W. Bush. 

Vấn nạn kế tiếp là làm sao thích ứng với một môi trường kinh tế mới, trong đó có sự vươn lên hùng mạnh của Trung Quốc ở miền Ðông Á, cũng như Ấn Ðộ ở miền Nam Á, để cạnh tranh với Hoa KHoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu. Có thể nói rằng, thế kỷ 21 sẽ chứng kiến sự hình thành 5 khối quyền lực kinh tế sau đây: Trước hết, 2 khối truyền thống là Hoa Kỳ (bao gồm các quốc gia châu Mỹ La Tinh) và Liên Hiệp Âu Châu (bao gồm Nga Sô).

Sau đó là Trung Quốc  thống trị vùng Ðông Á bao gồm Nhật Bản, Triều Tiên, Ðài Loan, Việt Nam và một số quốc gia Nam Thái Bình Dương.

Kế tiếp, Ấn Ðộ thống trị vùng Nam Á và bao gồm cả Nam Phi là một quốc gia có nhiều kiều dân Ấn Ðộ định cư.

Cuối cùng là tập thể các quốc Gia Hồi Giáo dưới sự lãnh đạo của Saudi Arabia hoặc Iran. Vũ khí kinh tế của họ là dầu hỏa và trang bị tinh thần của họ là ý thức hệ Hồi Giáo.  Thế giới sẽ thật sự đa cực, vì cùng với sự hùng mạnh về kinh tế, các cường quốc của thế kỷ 21 sẽ cạnh tranh và trang bị cho mình hùng mạnh hơn về phương diện quốc phòng nữa. Ngay trong hiện tại, các khối quyền lực đều đang có vũ khí nguyên tử. Trong trường hợp của các nước Hồi Giáo thì Pakistan đã có. Việc Saudi Arabia và Iran có võ khí nguyên tử chỉ là vấn đề thời gian.  Chính trị Cơ Cấu Liên Hiệp Quốc cần phải cải tổ toàn diện để giải quyết những vấn nạn nhân loại phải đối phó trong thế kỷ 21. Thật vậy, Liên Hiệp Quốc là một cơ chế đã quá lỗi thời. Mặc dầu được thành lập sau đệ nhị thế chiến, với Hoa Kỳ là quốc gia chủ động, trên nguyên tắc để bảo vệ dân chủ và nhân quyền. Nhưng động cơ thật sự để thành lập cơ chế này là sự bảo vệ vị trí và quyền lực của các siêu cường thắng trận: Hoa Kỳ, Liên Xô, Anh Quốc, Pháp và Trung Hoa.

Trong Hội Ðồng Bảo An thì lá phiếu phủ quyết của mỗi siêu cường có khả năng đi ngược lại với nguyện vọng của đa số các quốc gia thành viên và các nguyên tắc công lý căn bản. Kết quả là lập luận “Cái lý của kẻ mạnh luôn luôn thắng thế” là thực tế căn bản của cơ chế LHQ này. Từ ngày lập luật này được áp dụng triệt để, đưa đến sự kiện Cộng Sản Trung Hoa thay thế Trung Hoa Dân Quốc chiếm chiếc ghế thường trực trong cơ chế và trong Hội Ðồng Bảo An, thì nguyên tắc sức mạnh của mỗi siêu cường càng được củng cố hơn. Vấn nạn chính trị kế tiếp là ý thức hệ Hồi Giáo cực đoan. Vấn nạn này đang làm khủng hoảng nền trị an và kinh tế của các nước Tây Phương và có nguy cơ đe dọa nền hòa bình của toàn thế giới. Khủng hoảng này phát sinh từ một nguyên cớ căn bản và nhằm đạt đến một cứu cánh ý thức hệ rõ rệt:

Nguyên cớ:

Osama Bin Laden quan niệm rằng, người Hồi Giáo và các quốc gia Hồi Giáo là nạn nhân của những tham vọng có tính cách thực dân của người Thiên Chúa Giáo (bao gồm Công Giáo La Mã, các hệ phái Tin Lành và Chính Thống Giáo) từ thời Trung Cổ, qua các cuộc thanh chiến dưới sự điều động của các vị giáo hoàng La Mã, các vương tước Âu Châu và các triều đại Nga Hoàng dưới ảnh hưởng của Giáo Hội Chính Thống Giáo. Sự ủng hộ của Hoa Kỳ và các nước Âu Châu trong việc thành lập và công nhận nước Do Thái tại Trung Ðông, cũng như sự kiện họ ủng hộ và củng cố cho các chế độ vương quyền thối nát tại Saudi Arabia, Kuwait, United Arab Emirates…là những nối dài của các ý đồ thực dân này.

 

Cứu cánh:

 

Osama quan niệm rằng, thế giới chỉ thật sự hòa bình và an lạc sau khi chính giáo là Hồi Giáo và chân thần là Ðấng Allah thống trị toàn thể nhân loại. Lúc đó Giáo Luật Hồi Giáo sẽ là trật tự mới làm căn bản cho nền trị an của nhân lọai. Các hình thức chính quyền dân sự, từ độc tài cho đến dân chủ đều phải triệt tiêu. Ðường nét căn bản của ý thức hệ Hồi Giáo cực đoan là thế. Không có vấn đề giá trị tương đối của các quan điểm, hoặc trung dung hay trung đạo gì cả.

 

Tây Phương và Hoa Kỳ là những xã hội có một quá khứ, một hiện tại và một nền kinh tế không thể tách rời khỏi quá khứ và hiện tại của các dân tôc Hồi Giáo. Chính vì thế họ hoàn toàn toàn không có khả năng khách quan để giải quyết vấn nạn này.   

2.     Tương lai dân tộc Việt Nam Chính trị: 

Chủ thuyết cộng sản đã cáo chung, không những trong lòng người năm châu bốn biển mà ngay cả trong tim óc của từng đảng viên cộng sản Việt Nam. Trào lưu chuyển động từ chuyên chính vô sản đến một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên là một trào lưu bất khả vãn hồi. Ngay cả người CSVN cũng không thể chối bỏ thực tế này. Vấn nạn then chốt và có tính cách chiến thuật đối với họ là làm sao trì hoãn và kéo dài tiến trình dân chủ hóa đó, để trục lợi, mà thôi.

Người quốc gia thì có vấn nạn ngược lại. Ðó là làm sao đốc thúc tiến trình dân chủ hóa này để giải nguy cho dân tộc càng sớm càng tốt. Tuy nhiên yếu điểm của hàng ngũ quốc gia là không đủ sức để tạo một lực lượng đối kháng có thực lực tương tranh với người CS. Trong nước thì các đảng phái quốc gia chống Pháp, phát xuất từ lòng dân tộc, như Việt Nam Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt, bị CS tiêu diệt ngoài Bắc, và bị các thế lực siêu cường đẩy ra bên lề chính trị trong Nam. Tại hải ngoại sau 1975, thì không có tổ chức nào đủ khả năng và đạo đức để tạo niềm tin và quy tụ lòng người. Sự vắng bóng một đối lực khả tín đó một phần kéo dài sự thống trị của người CSVN. Văn Hóa:  Các dân tộc viễn đông như Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, Ðài Loan và Việt Nam chia sẻ truyền thống văn hóa Tam Giáo, cộng với những nét đặc thù địa phương của từng quốc gia và những du nhập từ Tây Phương vào giai đoạn cận kim. Chính vì thế văn hóa dân tộc không những là những vốn liếng quý giá tích lũy từ nhiều thời đại mà còn là “bản lai diện mục” của một dân tộc nữa. Các quốc gia như Nhật Bản, Nam Triều Tiên và Ðài Loan đã may mắn hơn Trung Quốc và Việt Nam vì họ tránh được tai họa Cộng Sản. Nền văn hóa truyền thống của họ được duy trì, phát huy, song hành với sự cải cách chính trị và canh tân kinh tế.

Nền văn hóa truyền thống Ðông Á đã lưu truyền từ hơn 4 ngàn năm mà không hề khơi động bất cứ một cuộc chiến tôn giáo hoặc ý thức hệ nào. Lý do là vì tiềm tàng trong nền văn hóa Tam Giáo đó, là một ý thức mạnh mẽ về tính tương đối của mọi quan điểm, chủ trương bất bạo động của Phật và Lão Trang, chủ trương Trung Dung của Khổng Giáo và Trung Ðạo của Phật Giáo. Nếu tương lai của nhân loại cần một chủ trương nào để hóa giải những hà khắc của một ý thức hệ Hồi Giáo cực đoan, đem lại hòa bình thực sự cho thế giới, thì nền văn hóa Ðông Á có khả năng rất cao đáp ứng nhu cầu này.

Ðiều đáng tiếc là tại Trung Quốc lẫn Việt Nam, trong quá khứ thì ý thức hệ Mác Lê và trong hiện tại thì chủ trương tư bản đỏ, đều là những phản đề của những bảng giá trị văn hóa Ðông Á truyền thống.Chính vì thế, không những trách nhiệm lớn lao của người làm chính trị, mà đồng thời trách nhiệm không kém phần quan trọng của người làm văn hóa tại Trung Quốc và Việt Nam, là phải tham gia tranh đấu, nhanh chóng đem lại sự cáo chung của các chế độ độc tài tư bản đỏ tại hai quốc gia này, hầu đóng góp vào việc tái sinh những bản giá trị văn hóa truyền thống. Có thể nói rằng sự phục hưng nền văn hóa truyền thống Việt Nam sẽ đem lại sự phục hưng của nền văn hóa truyền thống Trung Quốc, và ngược lại. Những chiến sĩ dân chủ và văn hóa Việt Nam cũng như những chiến sĩ dân chủ và văn hóa Trung Quốc đích thực đứng cùng một chiến tuyến. Kinh tế: Nền văn hóa Ðông Á, ngoài khả năng dung hợp lớn lao, còn là một động lực hùng mạnh sáng tạo về kinh tế nữa.

Bằng cớ là chỉ trong vòng một vài thập niên là các xã hội hoặc quốc gia có nền văn hóa này đã bắt kịp các nước tây phương. Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Ðài Loan, Hồng Kông và Tân Gia Ba là những nước điển hình. Trung Quốc và Việt Nam tụt hậu vì hiểm họa độc tài cộng sản. Một khi các dân tộc này thoát khỏi hiểm họa CS thì sẽ nhanh chóng vươn lên.

Dân tộc ta sẽ có khả năng vượt trên Thái Lan, Tích Lan (Phật Giáo Tiểu Thừa), Ấn Ðộ (Bà La Môn Giáo), Nam Dương, Mã Lai (Hồi Giáo) và Phi Luật Tân (Công Giáo). Lý do là một nền văn hóa trong đó nhiều tôn giáo cộng sinh trong sự tương nhượng hài hòa, sẽ giúp cho xã hội quân bình, ổn định, đồng thời tránh được các khuynh hướng giáo quyền cố chấp, đưa đến sự bảo thủ cực đoan.Thêm vào đó, trên phương diện kinh tế, nếu chúng ta có những chính sách kinh tế cấp tiến về:

a.      Quan hệ chủ nhân và thợ thuyền quân bình

b.     Chính sách năng lượng sáng tạo, tránh những lỗi lầm của các nước Tây Phương

c.     Một hệ thống luật pháp, kể cả luật thương mãi, trong sáng

d.     Một chủ trương tư hữu triệt để thay vì chủ trương tư bản đỏ trong “định hướng xã hội chủ nghĩa” què quặt hiện tại

e.      Một nền dân chủ tam quyền phân lập thực sự

Thì lúc đó con rồng kinh tế Việt Nam mới thực sự vươn lên trên vòm trời Ðông Á. 

Quốc phòng, chủ quyền quốc gia và sự vẹn toàn lãnh thổ: 

Giai đoạn đầu của thế kỷ 21 hàm chứa nhiều nguy cơ cho đất nước Việt Nam. Vùng biển Nam Hải trong tương lai gần sẽ là điểm nóng của những cuộc tranh chấp chủ quyền trắng trợn, liên hệ đến Trung Quốc, vì tiềm năng dầu hỏa và khoáng sản đối với một nền kinh tế đang phát triển mạnh và sẵn sàng trả bất cứ giá nào để chiếm cứ các tài nguyên này. Trung Quốc, vốn là mối nguy truyền thống của dân tộc ngày càng củng cố vị trí của mình như là một siêu cường về kinh tế, quân sự và chính trị, qua chiếc ghế thường trực trong Hội Ðồng Bảo An LHQ.

Bất cứ sự vi phạm lãnh thổ hoặc chủ quyền quốc gia của dân tộc Việt phát xuất từ Trung Quốc sẽ không bị phản ứng hữu hiệu từ cộng đồng quốc tế. Ngay cả Hoa Kỳ và những cường quốc Tây Phương cũng phải nể mặt Trung Quốc vì những lợi nhuận thương mại, vì cái giá quá cao phải trả nếu can thiệp vào một nước có binh lực hùng mạnh, và vì Trung Quốc có thể xử dụng quyền phủ quyết của mình trong HĐBA/LHQ để vô hiệu hóa một cách hợp pháp hành động xâm lược của họ.

Tình trạng khan hiếm dầu hỏa hiện tại là một nguyên nhân lớn thúc đẩy Trung Quốc có hành động mạnh tại Biển Ðông, không những để xác định chủ quyền một cách trắng trợn, đồng thời cũng để độc quyền khai thác gấp rút dầu hỏa và khoáng sản, để giải tỏa áp lực cho nền kinh tế Trung Quốc trước hiểm họa khan hiếm năng lượng.

Việt Nam sẽ gánh chịu những hậu quả ê chề trong những năm tới, dưới sự lãnh đạo của Ðảng CSVN.

Chính vì những lý do trên, vấn đề quốc phòng luôn luôn là một ưu tiên số một đối với dân tôc Việt, cũng như bất cứ dân tộc nào cộng sinh trong vòng ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa. Với dân số trên 80 triệu, với bàn tay và khối óc sáng tạo, Việt Nam sẽ không phải là một nước nhược tiểu phải mãi mãi nương tựa vào một, hay nhiều siêu cường để bảo vệ bờ cõi của chính mình. Dân tộc chúng ta có khả năng và phải đứng bằng đôi chân của chính mình.

Ngoài việc thi hành một chính sách ngoại giao mềm mỏng và khôn khéo để tạo những liên minh chiến lược quốc tế bao gồm Hoa Kỳ, Ấn Ðộ, Nhật Bản…thì một chế độ dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên làm nền tảng cho một nền kinh tế tự do và hùng mạnh, một lực lượng vũ trang tân tiến bao gồm vũ khí nguyên tử, tiềm thủy đỉnh và hàng không mẫu hạm đủ để làm run sợ bất cứ một kẻ ngoại xâm nào, là những mục tiêu nước Việt Nam chúng ta phải đạt đến.

3.     Tương lai Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam:

 

Mục tiêu đường dài của chúng ta là xây dựng một chính đảng nghiêm chỉnh để góp phần vào công tác kiến tạo một nền dân chủ đa nguyên bền vững cho dân tộc Việt Nam.

 

Một chính đảng như thế sẽ trường tồn cùng dòng lịch sử của dân tộc trong thế kỷ 21 và sau đó. Mục tiêu ngắn hạn và trung hạn của chúng ta là duy trì một tổ chức đấu tranh nghiêm chỉnh để góp phần hữu hiệu vào tiến trình dân chủ hóa đất nước.

 

Tại hải ngoại, chúng ta là một trong nhiều tổ chức sinh hoạt trong các cộng đồng từ Hoa Kỳ đến Âu Châu và Úc Châu.

 

Như là một tổ chức đấu tranh chúng ta gặp phải một số vấn nạn như những tổ chức đấu tranh khác. Những vấn nạn này bao gồm: 

 

Chiều dài vô tiền khoáng hậu của tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.

 

Nếu lịch sử thường nhắc đến công cuộc kháng Minh dành độc lập của vua Lê Lợi như là một cuộc trường kỳ kháng chiến tiêu biểu, thì cuộc tranh đấu của chúng ta để đem lại dân chủ cho đất nước đã dài hơn 3 lần mà chưa có kết quả. Những người tham gia cuộc đấu tranh vào tuổi 40 nay đã 70. Những người tham gia vào tuổi 30 nay đã 60. Nhiều người tiếp tục nhưng cũng có rất nhiều người đã rời bỏ cuộc đấu tranh hoặc đã rời bỏ cuộc đời.

 

Nếu có cuộc đấu tranh nào đòi hỏi những con người bất khuất, thì cuộc đấu tranh cho tự do và dân chủ này của đất nước Việt Nam chính là cuộc đấu tranh lịch sử đó. Những người còn lại ngày hôm nay phải được nghiêm chỉnh tuyên dương là những con người bất khuất nhất của lịch sử. Gánh nặng của những khuyết tật quá khứ: Phần lớn các tổ chức và đảng phái chống cộng mang nặng nhiều khuyết tật cố hữu qua 200 năm triều Nguyễn bảo thủ Tống Nho bao gồm 100 năm Pháp thuộc. Những khuyết tật như anh hùng cá nhân chủ nghĩa, lãng mạng chính trị chủ nghĩa, chính trị cơ hội chủ nghĩa và chính trị yếm thế chủ nghĩa làm giảm đi rất nhiều tiềm năng của các tổ chức này. 

Gánh nặng đời sống trong một xã hội công nghiệp: 

Chúng ta xuất phát từ một xã hội nông nghiệp trong đó vai trò của người trí thức được đánh giá rất cao vì khan hiếm. Chúng ta định cư tại các nước tiền tiến và công nghiệp nơi mà trình độ học vấn phổ thông hơn và vai trò của người trí thức không còn cao tột nữa. Tại các quốc gia này, đồng lương giữa một người có bằng cấp đại học ít khi cao gấp 10 lần một người làm việc lao động như thường xảy ra tại Việt Nam. Chính vì tính cách bình đẳng này, mọi cá nhân đều phải đi làm để kiếm sống, không thể có tình trạng một người có khả năng đi làm để nuôi sống nhiều người làm công tác đấu tranh, hoặc một người có trình độ học thức có thể đi làm mỗi năm một tháng và dành thì giờ còn lại cho công tác đấu tranh. Kết quả là chúng ta có rất nhiều người đấu tranh bán thời và làm việc sinh sống toàn thời. Thành quả của công tác dĩ nhiên kém đi rất nhiều. 

Khó khăn trong công tác truyền lửa đấu tranh xuyên thế hệ: 

Cũng vì bản chất của xã hội công nghiệp trên, thế hệ cha anh phải quần quật tranh sống và không có nhiều thì giờ để trao truyền thông điệp đấu tranh cho thế hệ con em. Thêm vào đó thế hệ của các em cũng là một thế hệ không kém phần “cơ cực” như là một “công cụ sản xuất” trong một xã hội công nghiệp tân tiến. Mặc dù lương bổng và lợi nhuận vật chất cao, nhưng thời gian để tư duy, sống cho mình, sống cho lý tưởng, lại vô cùng giới hạn. Ngay từ các lớp tiểu học các em đã phải cạnh tranh ráo riết để vào các trường tuyển. Khi lên trung học phải cạnh tranh để được điểm cao, hầu chọn các phân khoa ưu việt. Sau khi ra trường phải cạnh tranh ráo riết để vươn lên trong “career” của mình cho đến lúc về hưu 65 tuổi mới thôi. Ðó là chưa nói đến việc lập gia đình và nuôi dưỡng con cái còn cực nhọc hơn nữa. Chính vì thế những người có con, nuôi con, mà vẫn tham gia công tác đấu tranh trong các quốc gia công nghiệp, mới thật sự là những con người bất khuất siêu đẳng của lịch sử. 

Thời điểm chiến lược (strategic timing) của các tổ chức đấu tranh lỗi nhịp: 

Vì không đo lường được chiều dài quá độ của công cuộc đấu tranh nên “timing” của các tổ chức không phù hợp. Thật vậy, phần lớn các tổ chức dồn hết sức mình, đánh CSVN triệt để vào các năm trước 1990 khi CSVN còn rất mạnh và khi xã hội chưa cởi mở. Họ dồn sức đánh mãi cho đến khi họ kiệt quệ và nhiều tổ chức cáo chung. Ngày hôm nay, người CSVN tuy sống còn nhưng xã hội tương đối cởi mở và là lúc chúng ta cần phải hưng chí, khởi đầu một thế công bền bỉ, thì nhiều tổ chức đã kiệt sức và từ bỏ cuộc đấu tranh rồi. Tóm lại, nhiều tổ chức thua cuộc vì đã bỏ ra hết sức đánh khi CSVN mạnh và không còn đánh được khi CSVN yếu. 

Làm thế nào để giải quyết các vấn nạn nêu trên: Tất cả các vấn nạn nêu trên đều phát xuất từ một nguyên nhân nền tảng: đó là tính bất khả phân ly giữa tư duy của thành viên các tổ chức và tư duy của đại khối quần chúng.

Tóm lại, các thành viên phát xuất từ quần chúng và đưa đến hệ lụy không thể tránh khỏi là: các tổ chức đấu tranh trên thực tế là những tổ chức có tính cách quần chúng và mang nặng những bản chất bất định, dễ giao động, nông nỗi của quần chúng. Trong khi đó, cuộc đấu tranh trước mắt trường kỳ, khó khăn vô tiền khoáng hậu và đòi hỏi một tổ chức cán bộ, gồm những thành viên có trình độ tư duy vượt lên trên và tách biệt với quần chúng.

Vượt lên trên và tách biệt với quần chúng không có nghĩa là xa rời quần chúng. Trái lại còn có nghĩa là am hiểu quần chúng còn hơn chính họ tự hiểu họ nữa. Vì khả năng tách biệt này mà những giao động của quần chúng bình thường không làm giao động niềm tin và khả năng hành động của người cán bộ. Vì am hiểu quần chúng hơn chính họ, người cán bộ có thể lãnh đạo quần chúng hiệu năng.  

Hơn bao giờ hết, công cuộc đấu tranh trước mắt của thế kỷ 21 đòi hỏi một tổ chức cán bộ chuyên nghiệp. Những tổ chức nặng tính quần chúng sẽ mai một hoặc trở nên những viên gạch lót đường mà thôi. 

Kết luận: 

Nhiệm kỳ tới của Tân Hội Ðồng Lãnh Ðạo Trung Ương phải là nhiệm kỳ với mục tiêu minh thị xây dựng Tổ Chức PHVN thành một tổ chức có một đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp. Trong bất cứ tình huống nào, từ tổ chức liên hiệp, liên minh với những tổ chức khác, hoặc thống hợp, hoặc tiếp tục độc hành trên con đường trước mắt, thì nhu cầu một đội ngũ cán bộ như thế vẫn phải là điều kiện tiên quyết.

Nếu chúng ta muốn nêu gương sáng của một chính đảng nghiêm chỉnh tương lai. Nếu chúng ta muốn bức phá vòng lẩn quẩn triền miên, cần phải có một giai cấp cán bộ quyết tâm làm nhân tố để tạo ra, xây dựng và lãnh đạo một chính đảng của tương lai.